This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Ðường có thể chữa lành vết thương

Các nhà nghiên cứu đã thêm đường vào một băng gạc hydrogel để kích thích việc tạo lập các mạch máu mới vốn rất quan trọng đối với quá trình làm lành vết thương do các mạch máu vận chuyển máu đi khắp cơ thể để cung cấp ôxy và chất dinh dưỡng.

Ðường có thể chữa lành vết thương

Kỹ thuật làm lành vết thương bằng cách dùng các loại đường đơn hứa hẹn hỗ trợ làm lành đơn giản hơn, nghĩa là bệnh nhân sẽ cần chữa trị ít hơn, các bác sĩ có thể chữa trị nhiều bệnh nhân hơn và tiết kiệm chi phí đáng kể cho các hệ thống y tế quốc gia.

GS. Sheila MacNeil - Đại học Sheffield, tác giả nghiên cứu cho biết: Trên khắp thế giới, mọi người đang sống thọ hơn nhưng không may bị những vết thương trên da khó lành liên quan đến tuổi tác, đái tháo đường. Những vết thương này thường khó trị và là gánh nặng đối với các hệ thống y tế. Nghiên cứu này là một bước quan trọng tiến tới việc phát triển những sản phẩm băng gạc đơn giản, hiệu quả cao và chi phí thấp có thể dùng để chữa những vết thương khó lành như loét mãn tính ở người già và loét do bệnh tiểu đường gây ra.

 

Lê Anh

((Theo Materials Today Communications, 11/2017))

Rối loạn tiền đình

Dây thần kinh số 8 là đường truyền dẫn thông tin điều khiển hệ thống tiền đình giữ thăng bằng cho cơ thể. Khi chúng ta di chuyển, cúi, xoay... hệ thống tiền đình sẽ nghiêng, lắc để giữ thăng bằng cho cơ thể. Tổn thương dây thần kinh số 8 do nhiều nguyên nhân khác nhau khiến thông tin dẫn truyền bị sai lệch làm cho cơ thể mất thăng bằng, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, buồn nôn... Đó chính là hội chứng rối loạn tiền đình.

Biểu hiện của bệnh rối loạn tiền đình

Rối loạn chức năng tiền đình là bệnh lý khá thường gặp trong lâm sàng. Đây không phải là một cấp cứu nội khoa nhưng những trường hợp nặng, khởi bệnh cấp tính có ảnh hưởng nhiều tới khả năng lao động và tâm lý người bệnh.

Biểu hiện của rối loạn tiền đình đầu tiên là cảm giác chóng mặt, quay cuồng, hoa mắt, ù tai, buồn nôn. Nặng hơn người bệnh sẽ mất thăng bằng không giữ được tư thế, ù tai, không thể bước đi, dễ ngã.

Rối loạn tiền đình Cảnh giác với biểu hiện chóng mặt.

Chóng mặt: Ban đầu cảm giác chóng mặt chỉ thoáng qua nhưng càng về sau thì cảm giác này càng tăng dần và tần suất cũng tăng theo. Cảm giác cơ bản sẽ là đầu óc lâng lâng, quay cuồng và nặng trĩu, bạn thường dễ mất thăng bằng và bị ngã.

Mất thăng bằng: Cơ thể bạn mất thăng bằng và không thể đứng vững được.

Mất ý thức hoặc ngất: Người bệnh sẽ có cảm giác mất ý thức hoặc đột nhiên bị ngất, đi cùng đó là đổ mồ hôi, buồn nôn, thị lực giảm nhưng chỉ là thoáng qua.

Loại và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng rối loạn tiền đình có thể khác nhau, tuy nhiên chúng đều nguy hiểm và khó mô tả. Những người bị ảnh hưởng bởi rối loạn tiền đình có dấu hiệu thiếu tập trung, lười biếng, quá lo lắng hoặc tìm kiếm sự chú ý. Họ có thể gặp khó khăn trong hoạt động tại nơi làm việc hay trường học, thực hiện nhiệm vụ thường xuyên hàng ngày hoặc thậm chí là ra khỏi giường vào buổi sáng.

Tại sao bị rối loạn tiền đình?

Hệ thống tiền đình nằm ở mê đạo thuộc tai trong, có ba vòng bán khuyên nằm theo ba chiều không gian tại tai trong. Các thụ thể của hệ thống tiền đình là các tế bào có tiêm mao tiếp nhận cảm giác gia tốc góc hoặc gia tốc thẳng do sự di chuyển của đầu trong không gian nhờ sự di chuyển của nội dịch trong các vòng bán khuyên. Sự nhận biết này thông qua hai cơ quan là bào nang và bao nang. Thần kinh tiền đình sẽ dẫn truyền thông tin này tới các nhân tiền đình ở cầu não. Có bốn nhân tiền đình ở cầu não, các nhân này còn tiếp nhận các thông tin về thị giác và cảm giác sâu, có đường liên hệ với các nhân thuộc tiểu não. Các nhân này xử lý các thông tin về điều hoà các phản xạ chống trọng lực để giữ thăng bằng của cơ thể, cho vỏ não có thông tin về vị trí của đầu trong không gian.

Tham gia vào chức năng tiền đình còn có các chất dẫn truyền trung gian hoá học. Ở trung ương và ngoại vi có 3 chất là: Glutamat (có tác dụng duy trì sự phóng điện ổn định của neuron tiền đình trung ương, tham gia điều biến cung phản xạ tiền đình), acetylcholin (là chất kích thích tại các si – náp), GABA (tác nhân ức chế các mép nhân tiền đình giữa, đường liên hệ tế bào Purkinje tiểu não với các nhân tiền đình). Ở trung ương có thêm 3 chất khác là dopamin (có chức năng làm tăng bù trừ tiền đình), norepinephrin (có vai trò điều biến cường độ các đáp ứng trung ương đối với kích thích tiền đình, tạo điều kiện cho việc bù trừ của hệ thần kinh trung ương) và histamin (về vai trò của histamin các tác giả cho rằng chất trung gian hoá học này chỉ có ở trung ương, nhưng vai trò của nó với chức năng tiền đình chưa được biết rõ).

Tất cả sự rối loạn hoặc không đồng bộ các thông tin của hệ thống tiền đình sẽ gây tình trạng chóng mặt và các triệu chứng kèm theo.

Rối loạn tiền đình thường do nhiều nguyên nhân gây nên. Căn cứ vào vị trí tổn thương có thể có các nguyên nhân chính sau:

Tổn thương tiền đình trung ương: Bao gồm các bệnh lý như thiểu năng tuần hoàn não hệ sống – nền; thiếu máu não cục bộ tạm thời; đột qụy não; chấn thương sọ não; parkinson; xơ não tuỷ rải rác...

Tổn thương tiền đình ngoại vi: Chóng mặt tư thế kịch phát lành tính; bệnh Ménière; viêm thần kinh tiền đình; bệnh lý tai...

Ngộ độc các thuốc, chẳng hạn như thuốc kháng lao. Ngoài ra còn có nguyên nhân liền quan đến yếu tố tâm lý...

Làm thế nào để chẩn đoán?

Bác sĩ kết hợp thông tin về bệnh sử và các triệu chứng kết hợp với khám lâm sàng để tiến hành các xét nghiệm chẩn đoán nhằm đánh giá chức năng hệ tiền đình và loại trừ các nguyên nhân khác gây ra triệu chứng. Sau đó, bác sĩ có thể tiến hành các quy trình kiểm tra, bao gồm:

Ghi điện rung giật nhãn cầu (ENG): Quy trình này chỉ một nhóm các xét nghiệm hoặc xét nghiệm điện và sử dụng các điện cực nhỏ đặt lên vùng da xung quanh mắt nhằm đo chuyển động của mắt để đánh giá các dấu hiệu của rối loạn chức năng tiền đình hay các vấn đề về thần kinh.

Xét nghiệm xoay vòng: Xét nghiệm xoay vòng là một cách khác để đánh giá mắt và tai trong làm việc với nhau như thế nào. Những xét nghiệm này cũng sử dụng kính video hoặc các điện cực để theo dõi chuyển động của mắt.

MRI: MRI sử dụng từ trường và sóng radio để tạo ra hình ảnh cắt ngang các mô cơ thể được quét. MRI não có thể phát hiện các khối u, đột quỵ và sự bất thường về mô mềm khác mà có thể gây chóng mặt hoặc ngất.

m ốc tai (OAE): Xét nghiệm âm ốc tai cung cấp thông tin về các tế bào lông trong ốc tai làm việc như thế nào bằng cách đo sự đáp ứng của các tế bào tóc với một loạt các cú nhấp được tạo ra bởi một loa nhỏ chèn vào trong ống tai.

Rối loạn tiền đìnhThiếu máu não cục bộ tạm thời là một nguyên nhân gây rối loạn tiền đình.

Điều trị như thế nào?

Trước tiên là phải để bệnh nhân ở tư thế nằm đầu thấp, cố định đầu, nơi ít ánh sáng, tránh di chuyển. Nếu bệnh nhân có nôn nhiều phải cho thuốc chống nôn đường tiêm như papaverin 40mg hoặc primperan 10mg tiêm bắp; truyền dịch, bù nước - điện giải nếu có điều kiện.

Chống chóng mặt bằng các nhóm thuốc:

Các thuốc nhóm kháng histamin: Vừa có hiệu quả tới chứng chóng mặt, vừa làm giảm triệu chứng nôn và buôn nôn. Tác dụng phụ của nhóm này là có thể gây ngủ nhẹ nên không dùng trong khi điều khiển phương tiện giao thông.

Acetylleucin: Có cả dạng viên và tiêm tĩnh mạch; dạng tiêm tĩnh mạch nên tiêm chậm vì nếu tiêm nhanh có thể gây hồi hộp, trống ngực, mạch nhanh. Thường được dùng ở giai đoạn cấp tính.

Nhóm ức chế calci chọn lọc mạch máu não: Hay sử dụng nhất hiện nay là flunarizin, nên uống trước khi ngủ vì cũng có tác dụng an thần nhẹ. Các thuốc khác có thể dùng như cinnarizin.

Nhóm benzodiazepin: Đây là các thuốc trấn tĩnh nhẹ, có thể dùng trong trường hợp bệnh nhân quá lo lắng vì chóng mặt. Tuy nhiên, có thể gây quen và lệ thuộc thuốc nên phải có hướng dẫn kỹ, tránh lạm dụng thuốc.

Nhóm tăng tuần hoàn tiền đình, tuần hoàn não: Nhóm này thường được sử dụng sau giai đoạn cấp, thường để điều trị duy trì, sử dụng lâu dài.

Tập bù trừ tiền đình: Thường tập khi nghĩ tới chóng mặt tư thế lành tính. Nếu chóng mặt do thiểu năng động mạch đốt sống – thân nền thì không nên tập vì có thể gây thiếu máu não. Nên tập có sự hướng dẫn của thầy thuốc chuyên khoa. Có thể áp dụng cách tập tại chỗ sau đây:

Khi cấp tính: Tập ở tư thế nằm, đưa mắt sang hai bên, lên xuống, thực hiện động tác chậm rồi nhanh dần, nhìn một vật di chuyển qua lại trước mắt 20cm.

Khi qua giai đoạn cấp: Tập ở tư thế đứng, đang ngồi từ từ đứng dậy, sau đó đi, lên xuống cầu thang, xoay người kết hợp mở mắt và nhắm mắt.

BS. Nguyễn Đăng Khánh

Phòng chứng đau vai gáy

Bệnh Nếu không phát hiện và chữa trị đúng có thể gây biến chứng.

Khớp vai là một khớp chỏm cầu, vì thế biên độ vận động của khớp lớn, trong khi đó chỏm to, hõm khớp bé, bao khớp rộng và lỏng lẻo, phía trước mỏng, nên có thể bị trật khớp khi va cham mạnh hoặc càng về già khớp vai dễ thoái hóa góp phần vào căn nguyên gây đau vai, gáy.

Phòng chứng đau vai gáy

Nguyên nhân

Ở NCT có rất nhiều nguyên nhân tại khớp vai (viêm, trật khớp vai, thoái hóa khớp vai…) làm cho vùng vai gáy luôn bị đau hoặc nguyên nhân từ ngoài khớp vai như tổn thương ở cơ, bao gân, dây chằng, thần kinh, mạch máu... Ngoài ra, đau vai còn do thiểu năng mạch vành, do u đỉnh phổi hoặc do thoái hóa cột sống cổ dẫn tới các dây thần kinh chi phối vùng vai và cánh tay bị chèn ép gây đau (còn gọi hội chứng vai gáy). Thoái hóa, thoát vị đĩa đệm các đốt sống cổ hoặc do vẹo cổ bởi gối đầu cao hoặc nằm sai tư thế hoặc vẹo cổ bẩm sinh hoặc do dị tật. Đôi khi đau vai gáy do viêm, chấn thương hoặc do các tác nhân cơ học như ngồi lâu, cúi lâu hoặc do mang vác nặng sai tư thế nhất là công nhân đội than, cát từ tàu thuyền lên bờ. Ngoài ra, người ta cũng nhận thấy có một số yếu tố thuận lợi gây thiếu máu cục bộ vùng vai, gáy như thói quen ngồi lâu trước quạt hoặc ngồi lâu trong phòng máy lạnh hoặc do ra ngoài trời không đội mũ, nón để ánh sáng mặt trời chiếu thẳng vào vùng gáy. Đau vai, gáy còn có thể do bệnh tăng huyết áp, bệnh tim mạch (thiểu năng mạch vành…). Nên lưu ý là thoái hóa cột sống cổ gây đau vai gáy còn có thể đưa đến hậu quả xấu là gây nên bệnh thiểu năng tuần hoàn não do mạch máu bị chèn ép làm thiếu máu não.

Biểu hiện

Biểu hiện rõ nét nhất của hiện tượng tổn thương đốt sống cổ hoặc bị chèn ép dây thần kinh hoặc bị thiếu máu cục bộ đều có thể gây nên triệu chứng đau vai gáy. Đau vai gáy thường xuất hiện vào lúc sáng sớm vừa ngủ dậy. Sau một đêm ngủ, người bệnh, đặc biệt là NCT ngồi dậy bỗng dưng thấy đau nhức khắp mình, đặc biệt là đau vùng vai gáy, có khi đau lan xuống bả vai, làm tê mỏi các cánh tay, cẳng tay và ngón tay rất khó chịu. Triệu chứng đau nhức vai, gáy kéo dài trong nhiều ngày thậm chí trong nhiều tháng, cá biệt có trường hợp đau lan xuống hông, sườn hoặc làm thiếu máu cơ tim do chèn ép các mạch máu rất nguy hiểm. Đau vai gáy có thể xuất hiện khi ngồi làm việc ở bàn giấy nhiều thời gian như đánh máy tính, cúi xuống đọc văn bản hoặc sửa chữa văn bản hoặc soạn giáo án (các thầy cô giáo)…

Để chẩn đoán nguyên nhân đau vai gáy, tại cơ sở y tế có điều kiện, ngoài việc thăm khám, hỏi bệnh (gối đầu cao, ngồi, cúi lâu, mang vác nặng thường xuyên…), người ta còn chụp X-quang cột sống cổ với các tư thế khác nhau (thẳng, nghiêng, chếch), chụp cắt lớp vi tính (CT), nếu cần thiết sẽ được chụp cộng hưởng từ (MRI) và cũng có thể đo điện não đồ, đo mật độ xương…

Biến chứng

Đau vai gáy kéo dài không chỉ làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh mà còn có thể dẫn tới nguy cơ teo cơ, liệt tay. Có một tỉ lệ thấp do đau vai gáy có thể gây nên liệt nửa người thậm chí gây nhồi máu cơ tim do mạch máu bị chèn ép.

Phòng chứng đau vai gáyNếu cần thiết sẽ được chụp cộng hưởng từ để chẩn đoán nguyên nhân

Nguyên tắc điều trị

Tốt nhất là xác định nguyên nhân để tìm cách khắc phục. Với các nguyên nhân do tổn thương tại khớp vai cần được khám chuyên khoa khớp để được điều trị đúng bệnh mới chóng khỏi và tránh biến chứng xảy ra. Xoa bóp, bấm huyệt đúng cách, đúng chuyên môn hoặc điều trị bằng lý liệu pháp và thực hiện đều đặn hàng ngày cũng có thể đem lại hiệu quả nhất định kết hợp với điều trị thuốc. Điều trị thuốc gì khi đau vai gáy cần có chỉ định của bác sĩ khám bệnh, không nên tự mua thuốc điều trị và cũng không nên điều trị ở những người không có chuyên môn về y học. Hiện nay, khoa học ngày càng phát triển cho nên về tây y có những loại thuốc dùng điều trị về bệnh thoái hóa khớp nói chung và bệnh thoái hóa khớp vai nói riêng khá hiệu nghiệm.Thuốc vừa điều trị giảm đau vừa điều trị phục hồi dần các tổn thương của khớp mà ít ảnh hưởng hoặc không ảnh hưởng xấu đến đường tiêu hóa của người bệnh.

Lời khuyên của thầy thuốcNếu đau vai vai gáy ở giai đoạn đầu, cần khắc phục nguyên nhân gây ra đau vai gáy mà chính bản thân người bệnh biết được như không đọc sách, đánh máy vi tính kéo dài nhiều thời gian trong một buổi, trong một ngày; không nằm kê gối cao quá cả tư thế nằm ngửa, cả tư thế nằm nghiêng. Một số nghề nghiệp không thể không ngồi lâu trong một thời gian dài như lái xe đường dài, công tác văn phòng, sửa chữa máy móc đòi hỏi tốn thời gian và tập trung trí não cao độ thì nên cố gắng nghỉ giải lao giữa giờ làm việc khoảng 15 - 20 phút. Bên cạnh đó, người bệnh có thể tập cúi xuống, ngẩng đầu lên hoặc quay đầu, xoay cổ nhẹ nhàng trong vòng từ 10 - 15 phút sau vài giờ làm việc liên tục. Tuy nhiên, trong những trường hợp đã được bác sĩ khám và xác định thoái hóa đốt sống cổ, gai cột sống cổ, khớp vai không nên làm các động tác như xoay cổ, vặn cổ, xoay lưng mạnh, nếu làm như vậy sẽ “lợi bất cập hại”, thậm chí nguy hiểm. Người ta cũng khuyên nên bỏ dần thói quen ngồi ở phòng máy lạnh nhiều giờ hoặc khi ra khỏi nhà cần độ mũ, nón để che nắng mỗi khi có ánh nắng mặt trời. Nên bỏ thuốc lá, thuốc lào vì chất độc trong thuốc lào, thuốc lá cũng đóng góp đáng kể trong bệnh gây thoái hóa khớp. Nếu đo mật độ xương có vấn đề không tốt nên nghe theo sự tư vấn của bác sĩ khám bệnh cho mình cả về sử dụng thuốc, cả về chế độ ăn giàu chất canxi.

TTƯT.PGS.TS. BÙI KHẮC HẬU

Urea là chất gì trong cơ thể?

Chất urea là chất gì? Thừa hoặc thiếu chất này có ảnh hưởng đến cơ thể con người như thế nào?”.

Urea là tiếng nước ngoài, tiếng Việt gọi là urê.

Urê là sản phẩm cuối cùng của chuyển hóa chất đạm (protein) trong cơ thể, được thải ra ngoài cơ thể qua thận. Nói như vậy có nghĩa urê luôn có trong cơ thể, hằng ngày ăn thịt cá trứng sữa là chất đạm (protein) là đương nhiên có bổ sung urê.

Chất đạm ta ăn uống hằng ngày gọi là protein ngoại sinh được các protease của đường tiêu hóa, chuyển hóa tạo nên các axít amin. Các axít amin được chuyển hóa tiếp cuối cùng chủ yếu thành NH3 và CO2.

NH3 là chất độc được chuyển hóa thành urê là chất rất ít độc ở gan. Tất cả các rối loạn chức năng gan đều sẽ làm quá trình chuyển hóa NH3 thành urê bị suy giảm nhiều hay ít. Rối loạn này sẽ gây hậu quả tích tụ NH3 một chất độc đối với thần kinh với nguy cơ gây bệnh não do tăng amoniac đưa đến hôn mê gan. Riêng urê từ gan vào máu được vận chuyển đến thận và được đào thải ra ngoài theo nước tiểu (nước tiểu có mùi khai vì urê chuyển hóa trở lại thành NH3 gây khai).

Urea là chất gì trong cơ thể?Người ta làm xét nghiệm urê máu để đánh giá khả năng lọc của thận

Urê hòa tan dễ dàng trong nước, nên nước tiểu là đường loại bỏ lượng nitơ hữu hiệu nhất ra khỏi cơ thể. Một người trưởng thành bài tiết mỗi ngày trung bình khoảng 30g urê, chủ yếu qua nước tiểu, nhưng một lượng nhỏ cũng được bài tiết qua mồ hôi. Người khỏe mạnh là người bài tiết urê tốt và lượng urê trong máu nằm trong ngưỡng giới hạn bình thường. Một người trưởng thành bài tiết mỗi ngày khoảng 30g urê

Urê tương đối ít độc, kể cả lúc đậm độ của nó trong máu khá cao. Tuy nhiên, để đánh giá khả năng lọc của thận, người ta thường dựa vào chỉ số urê máu: chỉ số này càng cao thì chức năng thận càng kém. Và người ta cho người bệnh làm xét nghiệm urê máu kiểm tra đo lượng nitơ urê trong máu. Xét nghiệm urê máu còn gọi là xét nghiệm BUN (viết tắt của Blood Urea Nitrogen tức đo lượng nitơ urê trong máu). Nếu xét nghiệm máu cho thấy rằng mức độ nitơ urê cao hơn bình thường, nó có thể chỉ ra rằng thận không hoạt động bình thường.

Đậm độ bình thường của urê máu là 0,2 - 0,4 g/lít. Giới hạn này cũng có thể nới rộng ra: 0,1 - 0,5 g/lít. Trong phạm vi đó, chức năng thận được xem là bình thường. Chỉ số urê máu vượt quá ngưỡng trên có nghĩa là thận hoạt động kém hơn bình thường.

Cần chú ý là urê máu dễ thay đổi theo chế độ ăn uống (ăn nhiều đạm thì urê máu cũng tăng theo). Vì vậy, việc đánh giá không được chính xác lắm. Thay vì đo urê máu, người ta thường đo creatinin máu hơn. Creatinin là một sản phẩm thoái hóa của creatine phosphate, được sinh ra trong quá trình co giãn cơ bắp của cơ thể. Cũng giống như nitơ urê máu, creatinin được thải hoàn toàn bởi thận. Đo đậm độ creatinin máu chính xác hơn vì nó không phụ thuộc vào ăn uống và bình thường không đổi nếu chức năng bài tiết của thận hoạt động bình thường (creatinin máu bình thường là 16g/lít).

Nồng độ urê cao cho thấy chức năng thận suy giảm. Điều này có thể là do bệnh thận cấp tính hoặc mãn tính. Tuy nhiên, có rất nhiều điều ngoài bệnh thận có thể ảnh hưởng đến nồng độ urê chẳng hạn như giảm lưu lượng máu đến thận như trong suy tim sung huyết, sốc, căng thẳng, đau tim hoặc bị bỏng nặng, chảy máu đường tiêu hóa, điều kiện gây tắc nghẽn dòng chảy nước tiểu, hoặc mất nước.

Nồng độ urê thấp là không phổ biến và thường không phải là một nguyên nhân quan tâm. Nó có thể được nhìn thấy trong bệnh gan nặng hoặc suy dinh dưỡng nhưng không được sử dụng để chẩn đoán hay theo dõi bệnh lý này. Urê thấp cũng được nhìn thấy trong thời kỳ mang thai bình thường. Nồng độ urê thường thấp hơn trong thai kỳ, đặc biệt là trong những tháng cuối thai kỳ vì thai nhi sử dụng một lượng lớn protein của mẹ cho sự tăng trưởng.

PGS.TS. NGUYỄN HỮU ĐỨC

Những thói quen có hại cho tai mũi họng

Dưới đây là một số thói quen có hại nên tránh...

Thói quen có hại cho tai

Lấy ráy tai không đúng cách: Ráy tai nằm trong ống tai ngoài, là một chất không thấm nước có tác dụng bảo vệ tai khỏi chấn thương, nhiễm trùng hay dị vật từ bên ngoài. Tuy nhiên khi ráy tai quá nhiều, gây ra triệu chứng khó chịu như nghe kém, ù tai, viêm nhiễm... thì cần phải lấy ráy tai.

Một thực hành phổ biến hiện nay đó là việc người dân tự ý lấy ráy tai cho mình và người khác, hoặc lấy ráy tai tại các tiệm hớt tóc cũng khá phổ biến. Việc tự ý lấy ráy tai trong khi ráy tai chưa gây ra triệu chứng gì đôi khi gây ra hậu quả nghiêm trọng. Dụng cụ lấy ráy tai làm bằng kim loại cứng, có móc và sắc... rất dễ gây tổn thương trầy xước niêm mạc ống tai, gây viêm nhiễm, chảy máu. Đặc biệt là ở trẻ em, do sự không hợp tác chúng thường xuyên lắc đầu, quấy khóc khi bị lấy ráy tai. Việc cha mẹ làm trầy hay chảy máu tai con là rất hay gặp. Những dụng cụ lấy ráy tai này cũng không được khử trùng nên vết thương có thể bị nhiễm trùng; dùng chung dụng cụ với nhiều người làm tăng nguy cơ truyền những bệnh lây qua đường máu. Ngoài ra, tự lấy ráy tai đôi khi còn đẩy cục ráy vào sâu hơn trong tai, động tác thô bạo có thể gây thủng màng nhĩ.

Do đó, không nên tự ý lấy ráy tai cho mình hay cho người khác. Nếu bạn cảm thấy khó chịu do ráy tai quá nhiều, như ù đặc, nghe kém, ngứa hay đau, bạn nên tới gặp bác sĩ tai mũi họng để kiểm tra và lấy ráy tai nếu cần thiết.

Vệ sinh tai thường xuyên bằng tăm bông: Việc thường xuyên dùng tăm bông để ngoáy tai với lý do là làm sạch tai, hoặc đôi khi là do thích thú với cảm giác dễ chịu khi ngoáy tai. Động tác này cũng dễ gây tổn thương ống tai ngoài. Vì vậy, nếu sau tắm gội hay tai bị ướt bạn chỉ cần dùng khăn để lau khô. Không nên dùng tăm bông để ngoáy tai mỗi ngày.

Những thói quen có hại cho tai mũi họngVệ sinh tai thường xuyên bằng tăm bông dễ gây tổn thương ống tai ngoài.

Thói quen có hại cho mũi

Ngoáy mũi: Cảm giác khó chịu nơi lỗ mũi khiến người ta có phản xạ dụi mũi hay móc mũi, thường gặp ở những người có bệnh viêm mũi dị ứng, đôi khi cũng là do thói quen.

Niêm mạc vách mũi rất mỏng, là nơi tập trung nhiều mạch máu nhỏ và nông để sưởi ẩm luồng không khí hít vào, ngay phần trước vách mũi có 1 điểm mạch máu rất dễ bị tổn thương. Chỉ cần hắt hơi mạnh hoặc móc mũi... là sẽ gây ra chảy máu cam. Hiện tượng chảy máu cam hay gặp ở trẻ em, do chúng chưa ý thức được tác hại của việc ngoáy mũi.

Nhổ lông mũi: Một số người có sở thích nhổ lông mũi dù lông mũi không dài. Các lông ở trong mũi có tác dụng giữ lại các hạt bụi trong khí hít vào, do đó nó có tác dụng bảo vệ đường hô hấp. Nếu lông mũi dài quá, thò ra ngoài gây mất thẩm mĩ thì nên cắt phần ngọn lông chứ không nên nhổ cả gốc, rất dễ gây tổn thương niêm mạc mũi và gây viêm mũi.

Những thói quen có hại cho tai mũi họngNhổ lông mũi có thể gây tổn thương niêm mạc mũi.

Rửa mũi, xịt mũi, nhỏ mũi thường xuyên: Niêm mạc mũi được phủ bởi lớp nhầy, có tác dụng bảo vệ mũi, giữ ẩm và giữ bụi. Việc thường xuyên xịt rửa mỗi ngày dù mũi không bị bệnh sẽ không đem lại lợi ích gì mà còn có hại thêm, do làm tổn thương lớp chất nhầy bảo vệ mũi. Nhiệt độ của nước rửa mũi cũng ảnh hưởng tới mũi. Nếu nước rửa quá lạnh có thể gây co mạch máu, gây giảm miễn dịch tại chỗ. Việc xịt quá thường xuyên dạng phun sương vào mũi sai kĩ thuật lâu dài có thể dẫn đến tổn thương vách mũi.

Do đó, chỉ thực hiện vệ sinh mũi khi bị viêm đường hô hấp, theo sự chỉ dẫn của bác sĩ. Khi bình thường không nên nhỏ mũi hay xịt mũi.

Lạm dụng thuốc chống nghẹt mũi: Trên thị trường có rất nhiều các sản phẩm thuốc không kê toa có tác dụng chống tắc mũi, cả dạng nhỏ giọt, dạng xịt và dạng uống. Chúng thường xuyên được bán cho những bệnh nhân bị cảm, viêm mũi...

Các thuốc này làm giảm sự tắc nghẽn do sưng nề mô mềm ở trong mũi, giúp cho luồng không khí ra vào được ở cả 2 bên mũi một cách dễ dàng hơn. Thuốc xịt chống nghẹt mũi nếu dùng thời gian lâu dẫn đến phụ thuộc thuốc và phản ứng dội (nghĩa là chứng nghẹt mũi tái lại và tệ hơn ban đầu sau khi ngưng thuốc), trong khi đó thuốc chống nghẹt mũi dạng uống lại có thể gây tăng nhịp tim và huyết áp. Lưu ý quan trọng là không được dùng thuốc này cho trẻ nhỏ.

Lạm dụng khí dung: Khí dung là phương pháp đưa thuốc vào trong phế quản dưới dạng các hạt sương li ti, chủ yếu để điều trị chứng khò khè, co thắt phế quản trong bệnh suyễn, hoặc chống viêm trong bệnh viêm thanh khí phế quản cấp trẻ em. Tuy nhiên nhiều cha mẹ cho rằng, khi khí dung chỉ bằng nước muối sinh lý thì sẽ làm loãng nhầy mũi, giúp thông mũi... Cho nên hễ trẻ bị cảm ho, sổ mũi là họ lại khí dung. Điều này là hoàn toàn không cần thiết và lợi ích chưa được chứng minh.Việc khí dung nước muối kèm theo các thuốc như kháng sinh, kháng viêm (hydrocortison) hay thuốc giãn phế quản(ventolint) khi trẻ ho, sổ mũi mà không theo chỉ định của bác sĩ sẽ làm gia tăng tác dụng phụ của thuốc, sự đề kháng kháng sinh, giảm tác dụng của thuốc giãn phế quản.

Thói quen có hại cho họng

Súc miệng, súc họng: Khi có chỉ định vệ sinh họng bằng các dung dịch sát trùng để điều trị chứng viêm tại chỗ, một nhầm lẫn hay gặp đó là nhiều người lại súc miệng, nghĩa là chỉ ngậm và di chuyển dung dịch trong khoang miệng, từ bên này sang bên kia sau đó nhổ ra ngoài mà không thực hiện động tác ngửa cổ kêu a..a..a. Động tác này mới là động tác vệ sinh và sát trùng khoang họng.

Lạm dụng dung dịch sát trùng họng- miệng: Các dung dịch được quảng cáo có tính sát trùng họng, tạo hơi thở thơm mát... rất được ưa chuộng vì người ta nghĩ rằng nếu súc họng thường xuyên bằng các dung dịch sẽ giúp sát trùng, hơi thở thơm tho... Tuy nhiên, đa số các dung dịch có hương thơm và vị cay mát là dung dịch có độ cồn cao và không phù hợp với sinh lý niêm mạc họng, miệng. Việc súc họng nhiều lần trong một ngày với những thứ dung dịch này lâu dài dẫn đến những biến đổi mạn tính của niêm mạc, có thể có liên quan với sự gia tăng nguy cơ ung thư tại chỗ.

Tự pha nước muối tại nhà để súc họng không đúng nồng độ: Do tính chất sẵn có của muối ăn, nhiều người tự pha dung dịch nước muối để súc họng mỗi ngày. Chúng ta biết rằng, dung dịch nước muối được gọi là sinh lý với niêm mạc họng miệng là dung dịch có nồng độ 0,9 %. Nghĩa là trong 100 ml dung dịch đó chỉ có 0,9g muối mà thôi. Trong khi đó nếu tự pha rất khó để đạt được nồng độ này, thường dung dịch tự pha mặn hơn rất nhiều nước muối sinh lý gây tổn thương thêm cho niêm mạc.

Những thói quen có hại cho tai mũi họngTự pha nước muối không đúng nồng độ gây hại.

Hút thuốc lá: Hút thuốc lá luôn luôn là một mối đe dọa với sức khỏe toàn thân nói chung và sức khỏe hệ hô hấp nói riêng. Những bệnh nhân bị viêm mũi dị ứng hay suyễn sẽ không thể kiểm soát được bệnh nếu không cách li khỏi thuốc lá. Hút thuốc lá không những tăng nguy cơ ung thư phổi mà còn làm tăng nguy cơ ung thư hầu họng, ung thư miệng, ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của những người xung quanh.

Uống rượu bia quá nhiều và thường xuyên: Một lượng cồn lớn được nạp vào dạ dày trong thời gian dài có thể làm gia tăng chứng trào ngược dạ dày- thanh quản, dẫn tới viêm thanh quản mạn tính, biểu hiện khan tiếng hay tắt tiếng.

BS. Hoàng Long

Điều trị Zona thần kinh

Xin bác sĩ cho biết có phải tôi bị  Zona thần kinh không và nên điều trị ở đâu?

Lê Thị Lan(Đông Anh)

Bệnh Zona do virut Varicella Zoster gây ra là bệnh thường gặp trong các bệnh lý về da liễu, bệnh do nhiễm siêu vi có hướng thần kinh và da. Virut này có khả năng tồn tại và khu trú nhiều năm ở hạch cảm giác của người mắc bệnh thủy đậu từ nhỏ và sau đó tái hoạt trở lại để gây bệnh Zona.

Bệnh thường xảy ra ở nửa bên cơ thể như một bên mặt, một bên thân mình, thường không vượt quá đường ranh giữa của cơ thể. Người bệnh khởi đầu sốt nhẹ, khó chịu, nhức đầu, đau mình mẩy, đau xương sống, sau đó xuất hiện các mụn nước mọc thành chùm trên nền da có màu hồng, còn gọi là nền hồng ban. Các mụn nước này hợp lại thành bọng nước chứa dịch trong, sau đó hóa đục, vỡ ra, khô lại và đóng thành vảy. Thông thường từ 1-3 tuần tổn thương sẽ lành trừ khi bội nhiễm, sau khi lành để lại sẹo mất sắc tố. Biến chứng đau nhức sau Zona thường gặp nhất ở người cao tuổi. Vì vậy, bác nên đến khoa da liễu của bệnh viện gần nhà. Hoặc từ Đông Anh bác có thể về Bệnh viện Da liễu Trung ương để khám.

BS. Lan Anh

Nguyên nhân gây ung thư phổi

Phổi là một bộ phận của hệ hô hấp với vai trò chính là đưa oxy(O2) từ không khí vào và thải khí cacbon điôxít(CO2) ra ngoài cơ thể.

Cấu tạo của phổi bao gồm khí quản là ống dẫn khí chính còn gọi là cuống phổi và buồng phổi được chia đều hai cơ thể là bên phải và bên trái, mỗi buồng phổi đều có ống dẫn khí. Bên trong các ống dẫn khí có lớp màng nhầy mỏng có tác dụng giữ bụi, hạt phấn và các chất bẩn khác.

Ung thư phổi là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở nam giới, hàng năm có hàng hàng trăm nghìn người mắc mới và tử vong do căn bệnh này. Ngoài ra, ở phụ nữ, số người mắc và chết vì ung thư phổi cũng rất cao và là nguyên nhân gây tử vong cao nhất so với các ung thư khác như ung thư ruột, ung thư vú...

Những nguyên nhân

Hút thuốc lá

90% trường hợp mắc ung thư phổi là kết quả của việc sử dụng thuốc lá nhất là ở những người nghiện thuốc lá thì nguy cơ ung thư phổi lại gia tăng tỉ lệ theo số điếu thuốc hút và thời gian đã hút thuốc. Những người hút hai hoặc nhiều hơn hai gói thuốc lá mỗi ngày thì trung bình cứ 7 người có một người chết vì ung thư phổi.

Hút thuốc lào và hút xì gà cũng có nguy cơ gây ung thư phổi, mặc dù không cao bằng hút thuốc lá. Theo một số thống kê của các chuyên gia về ung thư thì ở người hút mỗi ngày một gói thuốc lá thì nguy cơ mắc ung thư phổi cao gấp 25 lần người không hút thuốc và nếu hút thuốc lào và xì gà thì nguy cơ mắc bệnh này cao hơn người không hút thuốc khoảng 5 lần.

Nguyên nhân gây ung thư phổiÔ nhiễm không khí cũng là nguyên nhân gây nên bệnh ung thư phổi

Trong khói thuốc có chứa hơn 4.000 hợp chất hóa học và có rất nhiều chất trong số đó đã được các nhà khoa học chứng minh là nguyên nhân gây ra ung thư, trong số đó thì nitrosamine và polycyclic aromatic hydrocarbons có vai trò rất lớn trong việc gây bệnh ung thư.

Để đề phòng bệnh ung thư phổi do thuốc lá cần phải giảm dần rồi tiến đến ngưng hẳn thuốc lá. Do đó, cai thuốc lá là biện pháp tốt nhất để giảm nguy cơ mắc ung thư phổi mỗi năm vì sau khi ngưng hút thuốc lá các tế bào của phổi sẽ phát triển bình thường và dần thay thế các tế bào bị tổn thương trong phổi do thuốc lá gây ra.

Ung thư phổi là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở nam giới

Hút thuốc thụ động:

Hút thuốc thụ động là trường hợp người không hút thuốc nhưng lại hít phải khói thuốc lá của người hút thuốc và đây là một nguyên nhân làm cho tế bào ung thư phát triển để gây bệnh ung thư phổi. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người không hút thuốc sống cùng người hút thuốc thì nguy cơ mắc ung thư phổi gần gấp 4 lần so với sống cùng người không hút thuốc.

Amiăng:

Amiăng là những sợi silicat rất nhỏ và nhẹ mà mắt người không thể nhìn thấy được, chúng thường có trong không khí ở những nơi xây dựng như xây nhà, đập phá nhà và sửa chữa nhà. Khi hít phải chúng có thể sẽ dẫn đến bệnh ung thư nhưng trong một thời gian dài khoảng 20 - 30 năm sau đó. Do đó, đối với những công nhân xây dựng thường xuyên phải tiếp xúc với amiăng thì sẽ có nguy cơ mắc ung thư phổi cao gấp 5 lần người thường. Và hơn thế nữa nếu người thường xuyên tiếp xúc với amiang mà hút thuốc lá thì nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi tăng gấp 50 lần những công nhân chỉ tiếp xúc với amiăng.

Bệnh phổi mãn tính:

Sự hiện diện một số bệnh của phổi, đặc biệt là lao phổi có nguy cơ làm tăng sự phát triển của ung thư phổi gấp 4 - 6 lần so với nguy cơ của một người bình thường.

Ô nhiễm không khí:

Ô nhiễm không khí cũng là một trong những nguyên nhân gây nên bệnh ung thư phổi như các loại khói bụi từ các phương tiện giao thông, các khu công nghiệp, các nhà máy điện…cũng có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư phổi. Các chuyên gia dự báo rằng, nếu tiếp xúc với không khí ô nhiễm nặng trong thời gian dài thì nguy cơ mắc ung thư phổi sẽ tăng cao như ở những người hút thuốc lá thụ động.

90% trường hợp mắc ung thư phổi là kết quả của việc hút thuốc lá

Để phòng ngừa ung thư phổi, cần xây dựng một môi trường sống sạch, bầu không khí trong lành, từ bỏ thuốc lá và các chất gây nghiện và thường xuyên kiểm tra sức khỏe định kỳ 6 tháng một lần để phát hiện sớm và điều trị kịp thời ung thư phổi.

Phòng ngừa thế nào?

Ngoài ra, cần phải hết sức “lắng nghe cơ thể” bởi các biểu hiện như thường cảm thấy đau tức ngực nhưng lại không có điểm đau xác định và kiểu đau giống viêm dây thần kinh liên sườn. Có khi đau quanh bả vai, mặt trong cánh tay… Đặc biệt nếu có hiện tượng khó thở, khó nói, nói giọng khàn, khó nuốt, gầy sút, sốt nhẹ... là bệnh đã tiến triển nặng vì khi đó khối ung thư đã phát triển lớn và chèn ép hoặc làm tắc khí phế quản.

Đối với những người phải thường xuyên làm việc trong môi trường độc hại, người hút thuốc lá hay những người mắc các bệnh như viêm phế quản mạn tính, lao phổi… cũng phải hết sức quan tâm đề có thể phát hiện sớm bệnh ung thư phổi.

Để có thể phát hiện sớm bệnh ung thư phổi, cần quan tâm khi có bất cứ những dấu hiệu nào như: sút cân nhiều mà không rõ lý do, ho kéo dài hoặc ho ra máu, đau ngực, khó thở, khó nói, khó nuốt cần phải đến bệnh viện chuyên khoa để được khám và điều trị ngay hoặc ở những người nghiện thuốc lá những người làm việc trong môi trường độc hại… Cần kiểm tra phổi bằng các xét nghiệm như: chụp hình phổi, xét nghiệm đàm, xét nghiệm dịch phế quản để có thể phát hiện sớm bệnh ung thư phổi.

BS. HỒ VĂN CƯNG